Trong bối cảnh công nghệ sinh học và y dược phát triển nhanh chóng, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu của các cơ sở đào tạo y dược. Ngày 09/6/2026, UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND về quản lý nhiệm vụ KH, CN & ĐMST sử dụng ngân sách nhà nước.
Được xây dựng trên cơ sở các luật mới năm 2025, quyết định này thiết lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho toàn bộ quá trình quản lý nhiệm vụ nghiên cứu, từ đề xuất, thẩm định đến nghiệm thu và thương mại hóa kết quả. Đối với Khoa Dược, đây là căn cứ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài trợ và chất lượng nghiên cứu khoa học.
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND quy định việc quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước của Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh không bao gồm các nhiệm vụ được hỗ trợ thông qua cơ chế hỗ trợ lãi suất vay hoặc phiếu tài chính theo quy định tại Nghị định số 268/2025/NĐ-CP.
Quy định áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chủ trì, doanh nghiệp và cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ KH, CN & ĐMST có quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Việt Nam. Trong đó, Khoa Dược là một đơn vị nghiên cứu chịu tác động trực tiếp, với vai trò đăng ký chủ trì hoặc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu được tài trợ từ ngân sách nhà nước.
2. Phân cấp thẩm quyền và cơ chế quản trị rủi ro
Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND đổi mới cơ chế quản lý thông qua phân cấp rõ ràng giữa Sở Khoa học và Công nghệ và Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Thành phố trong quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu. Đồng thời, quy định lần đầu tiên đưa quản trị rủi ro trở thành yêu cầu bắt buộc xuyên suốt vòng đời nhiệm vụ nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng ngân sách.
3. Tiêu chuẩn đối với tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ
Để đảm bảo tính tối ưu của các sản phẩm khoa học đầu ra, quyết định đưa ra các bộ tiêu chí nghiêm ngặt đối với nhân sự và tổ chức:
- Yêu cầu đối với tổ chức chủ trì: Có tư cách pháp nhân, chức năng phù hợp và đủ năng lực chuyên môn, nhân lực, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu.
- Yêu cầu đối với chủ nhiệm nhiệm vụ: Có trình độ từ đại học trở lên, tối thiểu 02 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan và năng lực quản lý, điều hành.
- Giới hạn số lượng nhiệm vụ: Mỗi nhiệm vụ chỉ có 01 chủ nhiệm; mỗi cá nhân được làm chủ nhiệm tối đa 02 nhiệm vụ KH, CN & ĐMST sử dụng ngân sách nhà nước cùng thời điểm.
- Chế tài xử lý vi phạm: Cá nhân có nhiệm vụ không đạt do nguyên nhân chủ quan bị cấm đăng ký chủ nhiệm trong 02 năm; trường hợp bị đình chỉ nhiệm vụ sẽ bị cấm trong 03 năm.
4. Đặc thù về thời gian thực hiện nghiên cứu Y Dược
Hiểu rõ đặc thù của các nghiên cứu thực nghiệm sinh học, thử nghiệm lâm sàng và phát triển dược phẩm, Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND đã ban hành khung thời gian ưu tiên cho khối ngành Y Dược:
- Nhiệm vụ thuộc lĩnh vực Khoa học Y, Dược và Khoa học Nông nghiệp: Thời gian triển khai tối đa được mở rộng lên đến 36 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Đây là một khung thời gian tối ưu, dài hơn đáng kể so với các nhiệm vụ thông thường khác (vốn bị giới hạn tối đa 24 tháng).
- Cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ hoặc nhiệm vụ ĐMST phức hợp: Thời gian thực hiện tối đa là 60 tháng.
- Gia hạn thời gian: Các nghiên cứu Y Dược (thời gian > 24 tháng) khi gặp trở ngại khách quan có thể được xem xét gia hạn 01 lần nhưng không quá 12 tháng.
5. Quản lý kết quả, dữ liệu thông tin và thương mại hóa
Sản phẩm của các nhiệm vụ khoa học sau khi nghiệm thu bắt buộc phải được số hóa, lưu trữ và công bố thông tin trên Hệ thống thông tin quốc gia về KH, CN & ĐMST theo Thông tư số 22/2025/TT-BKHCN. Việc xử lý tài sản được trang bị và giao quyền sở hữu trí tuệ, quyền khai thác thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ tuân thủ nghiêm ngặt theo các nghị định hướng dẫn của Luật KH, CN & ĐMST năm 2025 hoặc các chính sách đặc thù của Thành phố nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường.
Quyết định ban hành: Quyết định số 36/2026/QĐ-UBND
Chi tiết các hướng dẫn thực hiện được quy định cụ thể tại: Quy định kèm theo
-------------------------------------
New scientific and legal frameworks for managing science, technology and innovation activities in Ho Chi Minh City: Strategic directions for University-Based Medical and Pharmaceutical research
Amid the rapid development of biotechnology and modern medicine, science, technology, and innovation (STI) activities play a crucial role in enhancing the research capacity of health sciences institutions. On June 9, 2026, the Ho Chi Minh City People's Committee issued Decision No. 36/2026/QĐ-UBND on the management of state-funded STI projects.
Built upon the newly enacted laws of 2025, the decision establishes a comprehensive legal framework governing the entire research management process, from proposal submission and evaluation to project acceptance and commercialization of research outcomes. For the Faculty of Pharmacy, it provides an important foundation for improving the efficiency of research funding utilization and the quality of scientific research activities.
1. Scope of regulation and applicable entities
The regulation promulgated under Decision No. 36/2026/QĐ-UBND governs the management and implementation of science, technology, and innovation (STI) programs and projects funded by the Ho Chi Minh City state budget. However, its scope excludes projects supported through interest-rate subsidies or financial voucher mechanisms as stipulated in Decree No. 268/2025/NĐ-CP.
The regulation applies to governmental agencies, host institutions, enterprises, and individuals participating in STI activities under Vietnamese law. Within this framework, the Faculty of Pharmacy is directly affected as a research unit that may serve as either the lead institution or a collaborating partner in state-funded research projects.
2. Decentralization of authority and risk management mechanisms
Decision No. 36/2026/QĐ-UBND introduces a transparent decentralized management mechanism, assigning distinct responsibilities to the Department of Science and Technology and the City Science and Technology Development Fund in overseeing research projects. It also establishes mandatory risk management throughout the project lifecycle, enhancing accountability, mitigating potential risks, and improving the effectiveness of public budget utilization.
3. Eligibility standards for host organizations and principal investigators
To guarantee the highest quality of scientific outputs, the regulations implement stringent compliance criteria for institutional and individual applicants:
- Requirements for host institutions: Must possess legal status, appropriate functions, and adequate expertise, personnel, facilities, and financial capacity to conduct research projects.
- Requirements for principal investigators: Must hold at least a bachelor's degree, have a minimum of two years of relevant experience, and demonstrate project management capability.
- Project leadership limits: Each project may have only one principal investigator, and an individual may concurrently lead no more than two state-funded STI projects.
- Sanctions for non-compliance: Researchers whose projects fail due to subjective reasons are barred from serving as principal investigators for two years; the restriction extends to three years if the project is suspended.
4. Specific timeframes for Medical and Pharmaceutical research
Recognizing the unique nature of biomolecular experiments, clinical trials, and drug development, Decision No. 36/2026/QD-UBND introduces a preferential timeline for the medical and pharmaceutical sectors:
- Medical, Pharmaceutical, and Agricultural Sciences: The maximum project duration is extended up to 36 months from the date of contract signing. This optimized timeframe is significantly longer than standard projects, which are capped at 24 months.
- Project clusters, task chains, or complex innovation tasks: Granted an execution window of up to 60 months.
- Project extensions: Medical and pharmaceutical studies (with durations exceeding 24 months) encountering objective impediments may apply for a single extension not exceeding 12 months.
5. Output management, data integration, and commercialization
Upon successful evaluation, all research deliverables must be digitalized, integrated, and published within the National STI Information System in accordance with Circular No. 22/2025/TT-BKHCN. The disposal of project-funded assets, the assignment of intellectual property rights, and the commercialization of research findings are strictly regulated under the guiding decrees of the 2025 Law on STI or the city’s specialized mechanisms. This ensures an efficient pipeline translating laboratory breakthroughs into tangible market solutions.
Promulgating Decision: Decision No. 36/2026/QD-UBND
Detailed implementation guidelines are specified in: Attached Regulations